BỆNH CẬN THỊ Ở TRẺ EM

Cận thị là một loại tật khúc xạ phổ biến rất hay gặp ở lứa tuổi học sinh. Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội và thói quen sinh hoạt, tỷ lệ cận thị ngày càng gia tăng gây nhiều ảnh hưởng đến chất lượng sống và kết quả học tập của lớp trẻ. Theo nhiều nghiên cứu gần đây, tỷ lệ cận thị học đường chiếm từ 30 – 40 % số lượng học sinh, đặc biệt là học sinh thành phố, các trường chuyên, lớp chọn có nơi tỷ lệ này lên tới 80 %.

Thế nào là mắt cận thị?

Bình thường ảnh của sự vật đi qua các hệ thống quang học của mắt rồi được hội tụ đúng trên võng mạc, giúp mắt nhìn rõ được cảnh vật. Do sự bất thường của hệ thống khúc xạ, hình ảnh của vật không được hội tụ nằm trên võng mạc mà bị hội tụ nằm trước võng mạc dẫn đến nhìn mờ. Về cơ chế bệnh sinh, người ta chia cận thị ra làm 2 loại là cận thị khúc xạ và cận thị trục.

➤ Cận thị học đường 

 Xảy ra ở lứa tuổi học sinh, tăng dần lên theo tuổi phát triển (còn gọi là cận tiến triển, thường không tăng số khi tuổi trưởng thành). Những sự vật ở xa, mắt nhìn không rõ ở các mức độ khác nhau tùy theo mức độ cận thị. Cận thị học đường xuất hiện ở lứa tuổi đi học, xuất hiện càng sớm thì khả năng tiến triển càng nhanh và nặng.

➤ Cận thị trục: 

Xảy ra do trục nhãn cầu quá dài, trong khi lực khúc xạ của mắt bình thường. Trục nhãn cầu bị dài ra nguyên nhân là do cấu trúc của thành nhãn cầu bị dãn mỏng. Loại cận thị này thường có tính chất gia đình và thường xảy ra rất sớm ngay khi trẻ còn nhỏ tuổi, chưa đi học. Cận thị tiến triển rất nhanh, làm thị lực giảm sút nhiều, đồng thời làm võng mạc bị dãn mỏng dễ dẫn tới nguy cơ thoái hóa hắc võng mạc, rách võng mạc, thậm chí gây bong võng mạc dẫn tới mù lòa.

Các dấu hiệu của trẻ bị cận thị 

  • Hay nheo mắt để nhìn mọi vật, đặc biệt khi ánh sang yếu. Hoặc có những động tác bất thường liên tục như dụi mắt, nheo mắt, nghiêng đầu khi nhìn
  • Trẻ kêu mắt nhìn mờ hoặc nhức mắt, mỏi mắt đặc biệt khi nhìn xa
  • Kết quả học tập sút kém, không thích các hoạt động nhìn xa như đá bong, đá cầu mà thích thú hơn với việc đọc truyện, xem phim, chơi game…
  • Nhìn vật gì cũng phải đưa sát vào mắt mới nhìn rõ: cúi sát mắt vào sách vở, đứng sát vào khi xem ti vi.
  • Trẻ bị cận thị nặng có thể bị lác mắt kèm theo.

Trẻ bị cận thị cần phải được đưa đến khám tại các cơ sở chuyên khoa mắt để xác định chính xác mức độ cận thị, loại cận thị, phát hiện và điều trị các tổn thương ở đáy mắt nếu có.

Quy trình khám mới một trẻ cận thị

  • Thăm hỏi về thời gian và mức độ các biểu hiện của cận thị.
  • Thử thị lực không kính và thị lực qua kính lỗ để xác định sơ bộ có mắc tật khúc xạ hay không
  • Đo khúc xạ trên hệ thống đo khúc xạ tự động. Đánh giá mức độ ổn định giữa các lần đo và sự phù hợp giữa kết quả đo được với mức độ giảm thị lực. Sự không phù hợp này hướng tới một dạng cận thị giả
  • Thử thị lực với kính.
  • Tra thuốc liệt điều tiết và đo lại khúc xạ khách quan: Skiascopy hoặc soi bóng đồng tử.
  • Xem xét sự tương quan giữa khúc xạ khách quan sau tra thuốc liệt điều tiết và kết quả thử thị lực trước khi tra liệt điều tiết. Nếu thấy phù hợp, bác sỹ sẽ cấp đơn kính cho bệnh nhân. Nếu có sự không phù hợp, bác sĩ sẽ hẹn bệnh nhân lần sau đến thử kính, khi hết tác dụng của thuốc liệt điều tiết.

Điều trị

➤ Đeo kính: 

  • Trẻ bị cận thị cần được đeo kính cận thị đúng số. Việc đeo kính giúp trẻ có được thị lực tốt nhất, phát triển thị giác hai mắt một cách hoàn thiện và giúp trẻ hòa nhập vào thế giới năng động với nhiều màu sắc của chúng. Bạn cần hiểu rằng, 80% thông tin của cuộc sống là do chức năng thị giác mang lại.
  • Đeo kính giúp mắt nhìn xa rõ, nhìn gần ở khoảng cách bình thường, giảm dần thói quen nhìn sát vào sách vở, từ đó hạn chế được tốc độ tăng số của mắt. Đeo kính thường xuyên là tốt nhất, đặc biệt khi đi học, xem ti vi (đối với độ cận > 2 độ).
  • Kính cần được lắp đúng kỹ thuật, phù hợp với kích thước khuôn mặt, biết cách bảo quản tránh xây xước kính.

➤  Chế độ vệ sinh thị giác: 

  • Cần bố trí hợp lý giữa thời gian học hành, xem sách báo với thời gian hoạt động ngoài trời.
  • Cần tập thói quen nhìn xa, tập nhìn xa 15 – 30 phút / ngày.
  • Giờ ra chơi nên chơi ở nơi thoáng rộng.
  • Học hành 40 – 45 phút nên cho mắt nghỉ ngơi 5  – 10 phút.
  • Thường xuyên mát xa quanh mắt để thư giãn điều tiết cho mắt.

➤ Dinh dưỡng: 

  • Ăn uống đủ chất, đặc biệt là rau củ quả màu xanh thẫm hoặc màu đỏ.
  • Ăn đủ thịt, cá, trứng, sữa.
  • Có thể uống các loại thuốc bổ về mắt hoặc thực phẩm chức năng về mắt để tăng cường chức năng và chống thoái hóa cho các thành phần của mắt.

HỎI ĐÁP

1/ Uống thuốc và bấm huyệt chữa được cận thị?

Cần phải xác định rõ cận thị giả (co quắp điều tiết) và cận thị thực sự.
Co quắp điều tiết xảy ra khi mắt nhìn gần trong thời gian dài, cường độ làm việc cao. Mắt mỏi nhức và khi đo khúc xạ thấy độ cận thị khá cao, không ổn định, không tương xứng với thị lực. Sau tra thuốc liệt điều tiết, đo khúc xạ khách quan sẽ thấy không còn độ cận thị nữa.

Nếu cơ sở không phải chuyên khoa mắt, không khám kỹ, không tra thuốc liệt điều tiết, sẽ cấp kính cho bệnh nhân, tất nhiên số kính này không chính xác. Co quắp điều tiết được điều trị bằng nghỉ ngơi thư giãn mắt, uống thuốc bổ mắt, xoa bóp bấm huyệt cũng có tác dụng thư giãn mắt khá tốt. Sau đó mắt sẽ dần điều chỉnh được mà không phải đeo kính.

Cận thị thực sự là sau khi tra thuốc liệt điều tiết, vẫn còn tồn tại độ cận thị khi đo khúc xạ khách quan. Việc này chỉ thực hiện được ở cơ sở chuyên khoa mắt. Khi đã cận thị thực sự, chỉ có đeo kính mới làm tăng thị lực. Các phương pháp châm cứu bấm huyệt, uống thuốc bổ mắt chỉ là phụ trợ làm tăng khả năng chịu đựng của mắt, hoặc làm giảm quá trình tăng số kính chứ không làm giảm độ cận thị được

2/ Khi bị cận thị, đeo kính sẽ bị phụ thuộc vào kính do vậy không nên đeo kính?

Nhiều người có quan điểm sai lầm này. Người bị cận thị mắt nhìn kém, cần đeo kính để tăng chức năng thị giác, tăng chất lượng cuộc sống, mắt không phải điều tiết. Không đeo kính sẽ làm chức năng thị giác kém phát triển, đặc biệt ở trẻ nhỏ dễ làm rối loạn phát triển thị giác hai mắt và làm tăng nhanh độ cận thị.

3/ Mắt cận thị nhìn gần vẫn rõ do vậy chỉ đeo kính khi nhìn xa?

Việc này chỉ đúng khi bị cận thị nhẹ <1,5 diop và không hoàn toàn đúng với cận thị trung bình và nặng. Thực ra thì mắt cận thị muốn nhìn rõ được vật thì phải đưa lại gần sát mắt, gần hơn nhiều so với người bình thường, đặc biệt khi cận thị trung bình và nặng. Đeo kính cận thường xuyên giúp chức năng nhìn của mắt trở về gần như người bình thường, nhìn xa rõ mà nhìn gần cũng không phải đưa sát mắt. Tư thế này giúp hình thành một thói quen tốt trong tư thế học hành, tránh được hiện tượng tăng số kính quá nhanh do thói quen nhìn gần.

4/ Chất lượng một kính cận thị như thế nào thì tốt?

  • Trước hết, đơn kính phải chính xác về số diop (độ), khoảng cách đồng tử (khoảng cách giữa tâm 2 mắt). Sau đó là quá trình chọn gọn kính phù hợp khuôn mặt, chọn mắt kính chất lượng tốt và cuối cùng là quy trình lắp kính chính xác.
  • Khoảng cách đồng tử sai sẽ làm sai lệch hình ảnh hội tụ trên võng mạc, làm mắt mỏi, khó chịu khi đeo kính.
  • Gọng kính phù hợp khuôn mặt sẽ làm dễ chịu khi đeo kính, khoảng cách từ mắt tới mắt kính phù hợp (khoảng cách đỉnh) từ 12 -14 mm. Đồng thời tăng thẩm mỹ giúp người đeo kính tự tin hơn trong giao tiếp.
  • Chất lượng mắt kính cực kỳ quan trọng. Hiện nay trên thị trường đa số là các mắt kính rẻ tiền kém chất lượng, khúc chiết ánh sáng không đủ tiêu chuẩn ( kính mờ đục, không được trong), chất lượng hình ảnh không tốt (giống như gương soi chất lượng không tốt, hình ảnh sẽ bị méo, không thật), độ bền kém, không có các chức năng bảo vệ mắt.
  • Các loại mắt kính cao cấp có xuất sứ rõ ràng tuy hơi đắt nhưng đảm bảo chất lượng. Kính có độ trong suốt cao, hình ảnh trung thực, bền, có các chức năng chống chói lóa, ngăn cản các tia có hại cho mắt như tia cực tím, UV.
  • Quy trình mài lắp kính cũng vô cùng quan trọng. Mài lắp kính không đúng sẽ làm sai chỉ số kỹ thuật của kính làm người đeo kính khó chịu, có khi còn có hại cho mắt.

5/ Chế độ khám định kỳ như thế nào?

Nên theo dõi định kỳ 3 – 6 tháng khám 1 lần để điều chỉnh kính cho phù hợp với mức độ cận thị. Trong các trường hợp cận thị nặng có thoái hóa hắc võng mạc, theo dõi các tổn thương thoái hóa ở đáy mắt rất quan trọng để có can thiệp kịp thời như điều chỉnh chế độ lao động, điều trị laser đáy mắt…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *